Pháp luật qui định về việc kế thừa

Pháp luật qui định về việc kế thừa

Bộ luật Dân sự 2005 quy định về những người được thừa kế theo pháp luật như sau:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Những người thừa kế thứ nhất: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Những người thừa kế thứ hai: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

Văn phòng luật Hồ Chí Minh

c) Những người thừa kế thứ ba: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người thừa kế sau được hưởng thừa kế khi không có người thừa kế trước hoặc đã chết, hoặc bị truất quyền thừa kế, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Về vấn đề chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho con chưa thành niên:

Tại khoản 1 Điều 20 Bộ Luật dân sự (BLDS) quy định: Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 144 BLDS, cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật đối với con chưa thành niên; Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo đó, bạn có thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho con của bạn với sự đồng ý của người đại diện theo Pháp luật của con bạn. Pháp luật quy định, cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con nhưng bạn không thể tham gia một giao dịch dân sự với nhiều tư cách pháp lý:  vừa là bên tặng cho, vừa là người đại diện cho bên nhận tặng cho, bởi theo quy định tại Khoản 5 Điều 144 Bộ luật Dân sự, người đại diện không được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó. xem thêm tại: http://khainhandisanthuake.vn/thu-tuc-khai-nhan/

Cùng với quy định đó, tại khoản 1 Điều 76 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên như sau: Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên.

Nếu cha mẹ xác lập, thực hiện hợp đồng chuyển nhượng tài sản của con chưa thành niên mà không vì  lợi ích của con, không tính đến nguyện vọng của con; hoặc cha mẹ vừa là người đại diện theo pháp luật của con, đồng thời cũng là người đại diện của người mua, thì việc xác lập, thực hiện hợp đồng đó vượt quá phạm vi đại diện. Vì vậy, bạn đã là người sở hữu miếng đất, thì người đại diện cho con bạn để nhận quyền sở hữu đất phải là chồng của bạn.

Liên hệ văn phòng luật Nguyễn Trần và Cộng sự để được giải đáp mọi thắc mắc liên quan đến chính sách nhà nước:

Dịch vụ tư vấn pháp luật tại TPHCM

Văn phòng luật Hồ Chí Minh

Địa chỉ: Số 186Bis Trần Quang Khải, p.Tân Định, q.1, Tp.HCM

Điện thoại: (08) 66 763 289 – 0977 880 381 – 0943.747.735

Email: luatnguyentran@gmail.com – lienhe@luatnguyentran.com

Dịch vụ liên quan