Pháp luật qui định về việc bồi thường thiệt hại do người sử dụng chất kích thích

Pháp luật qui định về việc bồi thường thiệt hại do người sử dụng chất kích thích

Theo quy định tại Điều 615 về bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra (Bộ luật dân sự):

“1. Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường.

Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của họ mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”.

Theo như bạn trình bày, nam thanh niên 21 tuổi đã uống rượu, điều khiển xe máy, va chạm làm cho bạn và hai con của bạn bị thương. Ở đây đã có thiệt hại về sức khỏe của bạn cũng như của các con bạn, chính vì vậy, người gây ra tai nạn sẽ phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại trên cơ sở nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời, ngoài ra bạn và người gây ra tai nạn có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (tham khảo Điều 605 Bộ luật dân sự). Việc xác định trách nhiệm bồi thường của người đã gây ra tai nạn trong trường hợp này được xác định trên cơ sở thiệt hại thực tế, cụ thể ở đây là thiệt hại về sức khỏe bị xâm phạm, những thiệt hại này được quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự, với những thông tin bạn cung cấp thì người gây ra tai nạn có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị của bạn và con bạn, bao gồm:

“1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu… theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

– Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người bị xâm phạm sức khỏe nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

– Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khỏe bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

– Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

– Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.

Liên hệ văn phòng luật Nguyễn Trần và Cộng sự để được giải đáp mọi thắc mắc liên quan đến chính sách nhà nước:

nếu cần được tư vấn trực tiếp có thể đến với văn phòng luật Hồ Chí Minh của chúng tôi

 

Địa chỉ: Số 186Bis Trần Quang Khải, p.Tân Định, q.1, Tp.HCM

Điện thoại: (08) 66 763 289 – 0977 880 381 – 0943.747.735

Email: luatnguyentran@gmail.com – lienhe@luatnguyentran.com

Dịch vụ liên quan